Rechercher dans ce blog

lundi 15 janvier 2018

nghĩ về tiếng Việt...


… rốt ráo, kết cục, sắn bìm, lánh nạn, đóng góp, giữ gìn, ba cõi, gốc tiếng, dâng cúng, chuyển dịch sai lầm, tròn đầy, nước hoa thơm, cái bình đựng nước, đồ đựng nước tắm, rửa ráy, hình dáng, giữ cho trong sạch, dùng riêng, ở giữa, ruôn sang, thay đổi, im lặng, sâu thẳm, mảy may, nồng cốt, nền tảng…

Đọc qua một loạt những hàng chữ trên đây, trích từ bản dịch tiếng Việt bộ Phật Quang Đại Từ Điển (*01),  thiệt mừng hết sức.

Sao vậy?

Thưa, xin so sánh với nguyên văn chữ Hán của những từ này:

rốt ráo <= tất cánh
kết cục <= tất cánh
sắn bìm <= cát đằng
lánh nạn <= tị nạn
đóng góp <= cống hiến
giữ gìn <= hộ trì
ba cõi <= tam giới
gốc tiếng <= ngữ căn
dâng cúng <= cung phụng
chuyển dịch sai lầm <= chuyển ngoa
tròn đầy <= viên mãn
nước hoa thơm <= hương hoa thủy
cái bình đựng nước (công đức) <= thịnh trang (công đức) thủy chi dung khí
đồ đựng nước tắm <= mộc dục chi khí
đồ <= khí
rửa ráy <= tẩy địch
hình dáng <= hình trạng
giữ cho trong sạch <= bảo trì thanh tịnh
dùng riêng <= chuyên dụng
ở giữa <= trung ương
ruôn sang <= di nhập
thay đổi <= giao hoán
im lặng <= mặc niệm
sâu thẳm <= u huyền
mảy may <= hào phát
nồng cốt <= cốt cán
nền tảng <= cơ sở

(cf. các mục từ: thú bác ca, át già, thiền tông, tào động tông)

Dịch một bộ sách Hán văn, dày 8000 trang, thuộc về những bộ môn tôn giáo, lịch sử, triết học, văn học, xã hội học… mà vẫn giữ được thần hồn tiếng Việt!


Dân ta, nhất là những người ở nước ngoài, từ 1975 trở đi, đều nhận thấy có một bước ngoặt trầm trọng trong cách dùng tiếng Việt ngày nay.

Thực vậy, hàng loạt những tiếng “khó hiểu" bỗng dưng léo nhéo trong câu nói mỗi ngày, ra rả trên ống loa, qua máy thâu thanh hay đài truyền hình,  tràn ngập sách vở báo chí, nghị quyết, điều luật, v.v.

Tạm xếp tiếng Việt “mới” này theo 3 loại:

1) những tiếng 100% Hán: xử lý, chất lượng, tham quan, hải quan, hộ khẩu, đăng kí, hộ chiếu, phản cảm, hoành tráng, hiện đại, tiêu chí, tranh thủ, khẩn trương, ngoại hình, ca từ, X quang, Xã Hội Chủ Nghĩa… (*02)
2) những tiếng ghép nối nửa ta nửa Tàu: da liễu, ùn tắc, ung bướu, siêu xe, chuyên sâu, căn hộ…
3) những từ “cũ” mà ý nghĩa biến đổi rất nhiều: vô tư, chân dài, đại gia…

Ở đây, chúng ta tạm xét các tiếng trong loại thứ nhất.

Loại tiếng này chiếm phần lớn trong tiếng Việt, tạm gọi là “tiếng Việt 1975”.

Vào khoảng hai ba chục năm sau biến cố tháng Tư 1975, người Việt lánh nạn Cộng Sản sinh sống ở nước ngoài, còn phản ứng mạnh mẽ (*03).  Nhưng từ chục năm gần đây, những từ mà người ta cho là “chướng tai” kia lại được nói, viết một cách rất “vô tư”!

Từ lâu tiếng Việt chịu ảnh hưởng sâu đậm của chữ Hán; nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ đã “ước lượng” có tới hơn 50% từ ngữ tiếng Việt là gốc Hán (*04), nên có nhiều người nghĩ rằng sự việc dùng nhiều từ ngữ gốc Hán xưa nay chỉ là chuyện BÌNH THƯỜNG.

Tuy nhiên, xét kĩ các biến chuyển về tình hình chính trị nước nhà từ mấy chục năm nay, người ta phải biết rằng sự việc áp đặt những từ ngữ 100% Hán (Bắc Kinh, Trung Hoa Lục Địa) vào trong tiếng Việt, từ 1975, một cách ào ạt và có hệ thống: LÀ một chuyện KHÔNG BÌNH THƯỜNG, NẾU KHÔNG LÀ một mưu đồ xâm lược Việt Nam, qua ngả văn hóa (tiếng nói người dân) cùng lúc với những tiến công về 2 mặt kinh tế và quân sự.

Chữ Nôm xưa phát triển mạnh vào những thời kì dân tộc tự chủ tự cường (Trần, Lê, vua Quang Trung).

Nguyễn Trãi, tác giả
254 bài thơ chữ Nôm (Quốc Âm Thi Tập), đã soạn Bình Ngô Đại Cáo, mở đầu như sau:

Nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập; cùng Hán, Ðường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.” (*05)

Trong cuộc đời lâu năm xa nước, mỗi ngày phải dùng ngôn ngữ nơi mình sinh sống, người ta dễ quên đi tiếng mẹ đẻ, buông xuôi dễ dãi nói và viết theo các bản tin trên Internet, báo chí, đài truyền hình… tiếp tục  rao truyền (vì thiếu ý thức hoặc nằm vùng cố ý tuyên truyền) cách ăn nói nô lệ tiếng Hoa.

Xin xem gương cách viết tiếng Việt trong bản dịch Phật Quang Đại Từ Điển ở đầu bài viết này.



Chú thích:

(*01) Sa môn Thích Quảng Độ dịch, Quê Mẹ & Phòng thông tin Phật giáo quốc tế xuất bản (2012)
(*02) Xem: http://tieng-viet-dtk.blogspot.fr/
(*03) Xem: http://www.vietthuc.org/roi-boi-chu-nghia/ &
https://www.facebook.com/notes/nguyen-huy/nỗi-buồn-tiếng-việt
(*04) BS Nguyễn Hy Vọng đã chứng minh là không phải như vậy. Xem: Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt (2013).
(*05)  http://hv-ebook-binhngodaicao.blogspot.fr/
















2 commentaires:

  1. Nếu bây giờ không nói tiếng hán, tôi không thể diễn đạt được ý của mình, từ điển thuần việt quá sơ sài, không đủ năng lực diễn giải những khái niệm cao siêu.
    Cá nhân tôi cho rằng, ngôn ngữ là phục vụ người dân, vậy nên với sự thay đổi về nhu cầu sử dụng, ngôn ngữ cần tiến hoá để theo kịp nhu cầu đó. Nếu cứ khăng khăng “ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” tôi e là đó chỉ như cái bẫy hay ngục tù kìm hãm sự phát triển về nhận thức. Đó đồng nghĩa với việc cưu mang giặc dốt trong chính chúng ta.
    Thực tế là, yêu nước không thể hiện ở việc ngôn ngữ có mượn ở đâu, điều quan trọng là, chúng ta sử dụng nó vì mục đích gì.
    Nếu như soi lại lịch sử, tôi nhận thấy, các quốc gia Châu Âu không nơi nào là không có sự mượn lẫn nhau về mặt từ vựng hết, và không ai dám nói là họ không yêu nước.
    Hơn nữa, tôi còn khẳng định, dã tâm xâm lược từ phương Bắc đã hiện diện nhiều nghìn năm nay, nhưng chưa bao giờ chúng có được chúng ta. Việc chúng ta sử dụng ngôn ngữ chúng không phải là sự khuất phục đâu, mà ngược lại, chúng ta đã đồng hoá, chiếm lấy một phần của chúng, thành một phần của ta. Tôi cho là chúng ta vẫn luôn có bản sắc.

    RépondreSupprimer