Rechercher dans ce blog

mardi 14 janvier 2014

phương xa


"Lũ chúng ta đu thai lm thế k"

Hình như đó là mt câu thơ đã đi vào tâm thc người Vit hôm nay.

Câu này trích t bài "Phương xa" trong tp Thơ Say (1940) ca Vũ Hoàng Chương. Như mt li tiên tri, bài thơ ct lên tiếng kêu thương v thân phn con người chân tht gia mt thế gii đo điên.  Chm rãi đc li tng câu,  người ta có cm tưởng nhà thơ đã viết ra bài đó đ trao tng nhng người Vit Nam vượt bin đi tìm t do sau biến c 1975.


Lời thơ trong sáng và thm thiết tình người. Hai giá tr t lâu vng bóng trong tiếng Vit ngày nay.




Phương Xa

Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
Xô về Ðông hay giạt tới phương Ðoài
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi trơ vơ
Ðời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ

Men đã ngấm, bọn ta chờ nắng tắt
Treo buồm cao, cùng cao tiếng hò khoan
Gió đã nổi, nhịp trăng chiều hiu hắt
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy cho ngoan

Vũ Hoàng Chương
1940: Tự xuất bản THƠ SAY, nhà Cộng Lực ấn loát và phát hành. Nxb Nguyễn Đình Vượng tái bản 1971, Saigon.



mercredi 8 janvier 2014

ngụy quyền


Hai chữ "ngy quyn" chỉ chính quyền miền Nam cũ trước 1975.

Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh không có từ này. Cứ theo ý đồ đồng hóa tiếng Việt với tiếng Tàu từ vài chục năm gần đây, ta phải tìm nguồn gốc hai chữ này trong từ điển chữ Hán.

Quả thực, "ngy quyn" có thể bắt nguồn từ "ngy chánh quyn 偽政權". Theo Hán Điển (*), trong thời kì chiến tranh Trung Nhật, "ngy chánh quyn" đặc chỉ  chính quyền do Hán gian nắm giữ tại những vùng đất của Trung Quốc đã bị quân Nhật chiếm đóng.

Khoảng những năm 1972-1975, chiến tranh Việt Nam bùng nổ dữ dội, làm chấn động lương tâm thế giới. Rất nhiều phong trào kêu gọi hòa bình nổi dậy, đặc biệt ở Âu châu và nhất là tại Pháp. Hà Nội đã khôn khéo tuyên truyền khiến cho đa số dư luận quốc tế đều tưởng lầm rằng chiến tranh Việt Nam chỉ là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Ở Pháp, hai chữ "ngy quyn" được dịch là "gouvernement fantoche du Sud Vietnam".


Hiệp định Paris ki năm 1973 đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn của "ngy quyn" Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Nhà nước cộng sản quyết định đổi tên nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" thành "Cng hòa Xã hi ch nghĩa Vit Nam" và vn gi li cách ngôn (devise nationale) cũ theo đúng bn tuyên ngôn đc lp ca Vit Nam, sau khi giành đc lp t thc dân Pháp và Nht, đã được H Chí Minh son tho, và đc trước công chúng ti vườn hoa Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945:  


Đc lp - T do - Hnh phúc



Hi ơi, gn 70 năm qua, người dân Vit Nam càng ngày càng thy rõ ba cp ch cách ngôn này ch là "ngy ngôn", tc là li nói di (parole mensongère) mà thôi!


Ghi chú:


Bài đọc thêm

Thắng “Ngụy”

Trước 1975, dù rằng chẳng mấy khi phải nghe hoặc dùng đến chữ “ngụy” nhưng mỗi lần nghe hoặc đọc phải chữ đó thì cũng có thể hiểu được với cái nghĩa nôm na là “giả mạo” hoặc là “không chính thống”...

http://danlambaovn.blogspot.fr/2014/01/ang-ta-thang-nguy-nhung-so-viet-nam.html#.UtkoHF6NAfo





jeudi 26 décembre 2013

tây phương

Trong bài "Đôi mắt người Sơn Tây" có một câu thơ rất lạ:

Mắt em dìu dịu buồn tây phương

Câu này đã bị sửa thành:

Mắt em như giếng nước thôn làng

Hai chữ "tây phương" trong câu thơ nguyên thủy của Quang Dũng có thể hiểu là tên của ngôi chùa ở xứ Đoài, theo nghĩa "tây phương tịnh độ", tức là nước cực lạc ở phương tây trong thuật ngữ Phật giáo?

Hay là có ý nói tới mối tình với một người con gái Pháp hoặc với một người đàn bà mang tên Akimi, theo những giai thoại người ta còn đọc được? (*)



Hiểu theo cách nào, thì Quang Dũng vẫn có quyền ấp ủ niềm riêng, và người ta không được bức bách sửa chữa lôi thôi.
Ngày nào mà tiếng thơ còn bị áp bức độc đoán thì người dân Việt còn phải sống bưng bít trong vòng tăm tối.


Xin mời đọc và nghe lại bài thơ <ở đây> qua giọng ngâm của Hoàng Oanh.


Đôi Mắt Người Sơn Tây
Tác giả: Quang Dũng

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vầng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn tây phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta

Chú thích:
(*) Tham khảo:

Bài thơ Đôi Mắt NgườI Sơn Tây của Quang Dũng, được người yêu thơ thuộc nằm lòng. Quang Dũng là nhà thơ thời tiền chiến có nhiều bài thơ hay, trữ tình như: Tây Tiền, Đôi bờ.. nhưng Đôi mắt người Sơn Tây là một bài thơ được nhiều người ái mộ. Bài thơ như nói lên cuộc gặp gỡ đượm màu chia ly giữa nhà thơ với người con gái trong thời loạn lạc, một thoáng quen nhau và chia tay giã biệt -- một cuộc tình buồn ngắn ngủi:



Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến mới ra đi

Cách biệt bao lần quê Bất bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì



Như vậy người con gái nầy chắc hẳn ở Sơn Tây, và đã gặp nhà thơ? Nhưng nàng là ai, tên gì, làm gì, ở đâu? nhiều giai thoại cho rằng Quang Dũng quen người con gái Pháp (vì có câu “Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương“?) nhưng Tây Phương cũng là địa danh của tỉnh Sơn Tây ngày ấy (nay là tỉnh Hà Tây) với ngôi chùa Tây Phương nổi tiếng.

(...)

Trở lại chuyện Người con gái Sơn Tây, theo nhạc sỹ Phạm Duy (bạn học của Quang Dũng ở trường Thăng Long Hà Nội- Quang Dũng ngồi sau Phạm Duy hai hàng ghế, người to con nhưng rất  hiền) kể lại, lúc Quang Dũng còn là đại đội trưởng trung đoàn Tây Tiến đóng quân ở Hoà Bình. Vừa được nghỉ phép, về thăm gia đình ở Phùng thuộc tỉnh Sơn Tây, anh tạt qua nơi có tên là kinh Đào ở gần chợ Đại, thăm người tình cũ tên là Nhật. Người tình nầy, còn có một mỹ danh nữa là Akimi, nàng có hàng cà phê trong vùng cách mạng mà ông thường hay ghé uống. Nàng chính là người đẹp Sơn Tây, nguồn cảm hứng dạt dào cho Quang Dũng viết bài Đôi mắt người Sơn Tây, ông đã tặng nàng bài thơ có câu:

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương

dimanche 22 décembre 2013

súc sinh


Tình cờ, đọc được bản tin cũ (*) sau đây khá buồn cười.

Chuyện là cuối năm 2011, địa phương tổ chức tất niên, mở chương trình ca hát. Tại đây, khi bà NHT vừa kết thúc tiết mục văn nghệ thì ông N. đứng kế bên chiếc micro nói vọng vào: “Đồ súc sinh”. Mọi người trong hội trường cười ồ.

Tuy nhiên, mọi chuyện nhanh chóng chấm dứt và tiếp vào đó là các tiết mục văn nghệ sôi động khác. Bà T. cũng không màng trách cứ ông hàng xóm. Thế nhưng sau đó hiểu hết “hàm ý” chửi nên bà rất bực tức.

Không hiểu bà ấy tìm hiểu ở sách nào, đến nỗi đem sự vụ ra tòa kiện ông hàng xóm.

Trong đơn bà bảo ban đầu chỉ nghĩ từ “súc sinh” là bình thường không có gì đáng trách nhưng về sau tìm hiểu mới nhận ra súc sinh là thứ tệ bạc nhất trong muôn loài vật.

"Súc sinh" có gc t ch Hán: chù shēng 畜生.  T này thường ch chung cm thú như: ngựa, trâu, dê, gà, chó, lợn. Ngày xưa ở Việt Nam đã có truyện dân gian viết bằng chữ Nôm "Lục súc tranh công". Giờ đây, hai chữ "súc sinh" người Việt ít dùng, và chỉ còn là tiếng mắng chửi: chỉ người không có đạo lí nhân nghĩa gì cả, ngang hàng với cầm thú.

Tại sao bà kia cảm thy b s nhc nng nề như thế?

Theo thuật ngữ Phật Giáo, "súc sinh" là một trong sáu đường tái sinh. Chỉ các dạng đời sống trong luân hồi. Người ta phân biệt ba thiện đạo và ba ác đạo. Ba thiện đạo gồm cõi: Nhân, Thiên và A-tu-la. Ba ác đạo gồm: Ngạ quỷ, Địa ngục và Súc sinh.



Nếu dùng hai chữ "súc sinh" theo nghĩa là một trong ba ác đạo luân hồi như trên, thì thấy quả thực bà kia có lí và không thể chấp nhận được lời kết án trầm trọng quá mức của ông hàng xóm.

Tuy nhiên, trước và sau biến cố 1975, người dân Việt Nam gọi Hồ Chí Minh và các <đồng chí> của ông,  những kẻ làm tôi tớ cho khối Cộng Sản quốc tế từ 1945, đem ý thức hệ Mác-Lê-nin về đày đọa nhân dân, phá hoại đất nước từ mấy chục năm qua, là "quỷ đỏ", quả thực không sai.

Chú thích:





dimanche 15 décembre 2013

kháu khỉnh


Ngm nhìn nét kháu khnh, đáng yêu ca "Báu vt Hoàng gia Anh":


 

Kháu là gì? Khỉnh là gì?

 

Ông Lê Ngc Trụ cho rằng "kháu khỉnh" là nói ríu từ chữ Tàu:
  
Ho khán 好看 là "thy đp", ríu li thành kháu. Kháu-khnh đ gi đa bé dễ-thương xinh-xắn. Cái "đẹp" như "tụ" vào ch ho. Ch ho b nh-hưởng ca khán, thành ra kháu, ri tr thành tiếng đôi kháu-khnh. 
(Tm-Nguyên T-Đin Vit-Nam, trang 20 & 21)
  
Đáng ngờ cho cách giải thích từ nguyên này lắm. Chẳng lẽ hồi xưa người Việt khi thấy em bé xinh xắn, không biết nói ra sao mà phải đợi nghe người Hán sang đô hộ nói ho khán 好看, rồi bắt chước nói ríu lại thành "kháu khỉnh" hay sao?

Cứ như thế, ông Lê đọc một nghị định XHCN ngày nay, chắc bảo tiếng mình 100 % Tàu rồi chứ không phải chỉ quá nửa Tàu như đã ghi trong sách Tầm-Nguyên của ông ấy.

May thay, còn có người chỉ ra nguồn chung Lào & Thái của "kháu khỉnh" (Xem Từ điển Nguồn gốc tiếng Việt, BS Nguyễn Hy Vọng).





 

 

mardi 3 décembre 2013

đồng chí

"Quê hương anh nước mặn đồng chua
"Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
"Anh với tôi đôi người xa lạ
"Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
"Súng bên súng, đầu sát bên đầu
"Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
"Đồng chí!"

Đây là mấy câu thơ (Chính Hữu, 1948) cực tả ý nghĩa ban đầu của hai chữ "đồng chí": Chỉ người cùng chí hướng, phấn đấu cho một sự nghiệp chung. "Sự nghiệp chung" ở đây là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thời kì đó.



Tuy nhiên, từ này có lẽ bắt nguồn trong cái tên của tổ chức "Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội", do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1925 tại Quảng Châu, Trung Quốc. Sau này hội này còn mang tên là "Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên".

Đó là một tổ chức cách mạng của Việt Nam hoạt động chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và tuyên truyền chủ nghĩa Marx-Lenin.

Rõ ràng, từ "đồng chí" mang ý thức hệ Liên Xô và viết chữ theo Tàu cộng sản (Xem: tóng zhì 同志 http://www.zdic.net/c/c/14b/327808.htm).

Tiếp theo đó là hàng loạt những từ ngữ của Trung Quốc ồ ạt xâm nhập tiếng nói người Việt: vô sản giai cấp, phong kiến chế độ, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, vân vân và vân vân.

Ở miền Bắc, từ 1945, Hồ Chí Minh và các "đồng chí" của ông lập nên một chế độ chuyên chính độc tài độc đảng, đồng thời tiếp tục làm công cụ cho khối cộng sản quốc tế phá hoại miền Nam, cho đến tháng Tư 1975, thành công áp đặt xã hội chủ nghĩa trên toàn cõi Việt Nam.

Sự kiện hàng trăm từ ngữ chữ Hán, một sớm một chiều từ 1975, nhất loạt thay thế những cách nói thông dụng ở miền Nam cũ không phải là sự biến hóa tự nhiên của một ngôn ngữ: xử lý, đăng kí, hộ khẩu, cải tạo, sự cố, chất lượng, hải quan, tham quan, hộ chiếu, v.v. (Xem: http://tieng-viet-dtk.blogspot.fr/2012/09/bang-tu-vi-tieng-viet-1975.html).

Tuần báo Thanh Niên của Nguyễn Ái Quốc (Quảng Châu)

Ngày 23/11/2013 Báo điện tử QĐND đăng bài: 3000 Thanh Niên Việt Nam (TNVN) tập trung ở các cửa khẩu: Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh và lên đường sang Trung Quốc dự liên hoan giao lưu Thanh Niên Việt Nam và Thanh niên Trung Quốc, tổ chức lần 2 bắt đầu từ ngày 24 đến 27 tháng 11 tại các thành phố: Liễu Châu, Bắc Hải, Khâm Châu, Quý Cảng, Ngọc Lâm, Phòng Thành, Sùng Tả và Nam Kinh.



Đoàn TNVN được chia làm 7 nhóm đi 7 thành phố, tham gia các hoạt động như: Lễ khởi công xây dựng cửa khẩu Đông Hưng. Thăm một số di tích gắn liền với cách mạng VN và chủ tịch Hồ Chí Minh. Tọa đàm phát triển công nghiệp, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao với thanh niên địa phương Trung Quốc. Sau cùng là trồng cây hữu nghị "Thanh niên Việt Trung". 
(Xem: http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/11/csvn-va-nhung-am-muu-han-hoa-viet-nam.html#.Up9kJfaNAfo).

Từ năm 1925 lấy hai chữ "đồng chí" (tóng zhì 同志) đặt tên cho tổ chức "Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội", đến năm 2013 phát động phong trào trồng cây hữu nghị "Thanh niên Việt Trung" cùng hô hào các "đồng chí" Việt Nam hãy là "láng giềng tốt" của Trung Quốc, càng ngày người dân trong và ngoài nước càng thấy rõ tất cả đều là những chiêu bài của phương Bắc nhằm nuốt chửng Việt Nam.

Nhưng hai chữ "đồng chí" ngày nay đã trở nên rỗng nghĩa hoàn toàn, nếu không nói là hàm ý tráo trở. Chính ở Trung Quốc những năm gần đây, nhà cầm quyền cũng khuyến cáo dân chúng tránh dùng hai chữ "đồng chí". Bây giờ, ở Việt Nam, ngay cả các cán bộ Nhà nước cũng có phần e ngại khi nói đến hai chữ này.

Vì không thể dối gạt người dân mãi được.












vendredi 22 novembre 2013

tần thân


Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang.
Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân.

Đọc thơ Bùi Giáng nhiều bài hay lạ lùng, nhưng thường khi cũng lấy làm khó hiểu. Một trong những lí do chính là vì có rất nhiều từ chữ Hán, đặc biệt là thuật ngữ Phật giáo, trong thơ Bùi Giáng.

Theo Hán Ngữ Đại Từ Điển:
tần thân 頻呻: ngáp dài, duỗi lưng, ngả lưng (vì buồn ngủ, vì mỏi mệt).

Trong bài "Thụy giác 睡覺" của Bạch Cư Dị có hai câu như sau:

Chuyển chẩm tần thân thư trướng hạ,
Phi cừu ki cứ hỏa lô tiền.

轉枕頻伸書帳下, 披裘箕踞火爐前。

Nghĩa là: Trở gối ngáp dài dưới màn trong phòng sách, Khoác áo da ngồi duỗi chân trước lò sưởi.

Như vậy, hai câu cuối trong bài thơ của Bùi Giáng có thể hiểu như sau: Nơi ngôi chùa Dược Sư (ở Việt Nam) vô cùng thơ mộng ấy, Nỗi buồn bay vút lên tận tầng mây trên núi cao, Trung Niên thi sĩ vươn vai ngáp dài một cái.

Không hẳn là vô nghĩa lí. Câu thơ mang âm hưởng Huy Cận mà Bùi Giáng đôi lần nhắc đến trong các tác phẩm của ông:

Thâu qua cái ngáp dài vô tận. 
Hình ảnh lung linh vũ trụ tàn.

sư tử tần thân
Trong kinh sách Phật giáo còn có thuật ngữ: Sư tử tần thân tam muội 師子頻呻三昧  (Trí độ lun, Kinh Th Lăng Nghiêm). Câu này này tương đồng với thuật ngữ Sư tử phấn tấn tam muội 師子奮迅三昧 (Sanskrit: Simha-vijrmbhita-samadhi). "Đây là loại thiền định có uy lực lớn, giống như sức mạnh mẽ, nhanh nhẹn của sư tử, cho nên gọi là Sư tử phấn tấn tam-muội. Theo Hoa Nghiêm Kinh Pháp Giới Thứ Đệ quyển Trung thì Tam-muội này có thể chia làm hai loại: 1) Dứt trừ các lậu hoặc vô tri nhỏ nhiệm. 2) Xuất nhập Tam-muội cực kì nhanh chóng." (*)

Có lẽ phải đọc bốn câu thơ của Bùi Giáng như một bài kệ Phật giáo.